Lịch công tác tuần phòng văn hóa thông tin Quảng Điền
Thống kê truy cập

Đang trực tuyến: 7

Hôm nay:

Tuần này:

Tháng này: 736

Tổng lượt truy cập: 261435

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH MUÔN NĂM!   ***  

Ba anh em họTrần Công làng Niêm Phò
Dòng họ Trần ở Niêm Phò là một trong những dòng họ đỗ đạt và nổi tiếng trong đó ba anh em ruột Trần Bá Soạn, Trần Trọng Nhượng và Trần Thúc Nhẫn đã lưu lại tiếng thơm muôn đời về sự tận trung, hiếu thảo, hòa thuận. Ban đầu ba anh em cùng có tên lót là Công, sau đó được vua Tự Đức ngự phê thành Bá- Trọng- Thúc theo thứ tự trên xuống để phân biệt anh em khi vào chầu (1).

        Theo gia phả của dòng họ Trần phái ba nhánh 5 ở Niêm Phò, tổ tiên bốn đời trước  của ba anh em là ông Trần Công Nghị làm quan triều Lê. Đến đời ông nội là Trần Công Gián (1764-1812) có công phò vua Gia Long thống nhất đất nước nên được phong tước Tham luận lịch trị Hầu chức quan Giảng nghị đại phu, đến đời ông bố là Trần Công Đản (1795-1861) đỗ Sinh đồ bổ làm Hành tẩu nội các, sau đó bị bệnh nên đã xin cáo quan về quê dạy dỗ con cái và học trò, trong đó có nhiều người thành đạt nên được triều đình gia tặng “ Thị tộc học sĩ”  (tuy nhiên theo cuốn Đại Nam chính biên liệt truyện thì việc gia tặng “Thị độc học sĩ” là nhờ quan hàm của người con là Trần Công Nhượng.)(2)

        Trần Công Soạn sinh năm Nhâm Ngọ (1822), tên tự là Tốn Thủ, đỗ Cử nhân khoa Quí Mão (1843), đỗ Phó bảng khoa Giáp Thìn, Thiệu Trị năm thứ 4 (1844). (Năm đó triều đình lấy 2 đệ nhị tiến sĩ là Nguyễn Văn Chương và Nguyễn Văn Phú, 8 đệ tam tiến sĩ và 15 phó bảng).(3) Ông làm quan đến chức Tuần phủ Hà Tĩnh, sau đó thời gian do bị bệnh nên xin cáo nghỉ. Ông là anh đầu trong số ba anh em, mất năm Mậu Thân (1908).

       Em kế ông Soạn là Trần Công Nhượng, sinh năm Ất Dậu (1825), người thông minh  lanh lợi. “Thiệu Trị năm thứ 6 (1846) đỗ Hương tiến. Tự Đức năm thứ 13 (1860) bổ huấn đạo Duy Xuyên, rồi qua thăng Viên ngoại lang sung Cơ mật viện hành tẩu” rồi “bổ Thị độc lĩnh Án sát sứ Nghệ An”. Trần Nhượng thấy tài đức của mình không bằng người anh nên xin triều đình xem xét cho hoán đổi vị trí công tác. Kết quả “vua cho phép và chuẩn cho hai người đổi chức cho nhau”5. Nhân đó vua khen “anh thuận em kính, không hổ tên là Nhượng”, rồi cất lên chức Hồng lô tự khanh Biện lý Lại bộ. (thời gian này Trần Công Soạn đang giữ chức Kinh kỳ đạo Chưởng ấn).

        Năm Tự Đức thứ 30 (1877) Thị lang bộ Lại Trần Nhượng “đổi bổ Hàn lâm viện Trực học sĩ sung làm giáo đạo ở Dục Đức đường.”6 Chức này chuyên về  giảng dạy cho hoàng tử tại nhà Dục Thị. Năm đó  người anh là Trần Công Soạn bất cẩn trong công việc bị giáng xuống chức Viên ngoại lang, em là Trần Thúc Nhẫn thì làm Biện lý bộ Lễ, cũng bị giáng 2 cấp do “kinh thường bàn đến việc trường thi”7 trước lúc truyền lô đọc tên các tiến sĩ khoa thi Đinh Sửu.

         Đến năm Tự Đức thứ 33 (1880) Trần Nhượng thăng Tuần phủ Thuận Khánh, Nam Ngãi rồi Tham tri bộ công kiêm Đô sát viện Hữu phó Đô ngự sử, rồi ra làm hộ lý Tổng đốc An Tĩnh kiêm sơn phòng sứ. Năm đầu niên hiệu Kiến Phúc (1854) đổi đi Bố chính sứ Quãng Ngãi rồi bệnh về quê an dưỡng.  Ông viết 8 chữ: “ An thường, thủ phận, thị long gia phúc” ( giữ gìn bổn phận, yêu trí cảnh bình thường, không cầu cầu cạnh gì cả, thế là làm thinh, thêm ấm phúc gia đình) rồi dán vào bên phải chỗ ngồi để dạy con cháu. Sau một thời gian ông được mời ra dùng lên chức Lễ bộ Tham tri sung kinh diên nhật giảng quan. Khi về hưu được phong hàm Thượng thư trí sự. Ông mất năm Canh dần (1890) thọ 65 tuổi.

         Người em út là Trần Thúc Nhẫn sinh năm Tân Sửu (1841) trước có tên gọi là Bình, tên tự  Hy Nhân, là một trong những nhân vật quan trọng trong trang sử bi tráng nước nhà. Ông thi đổ Cử nhân năm Đinh Mão (1867) dưới triều Tự Đức, làm quan lần lượt trải đến chức Tham tri bộ Lễ. Khi Pháp đánh chiếm Thuận An năm 1883(8), ông được cử đi nghị hòa nhưng việc bất thành, rồi đến khi Trấn Hải Thành thất thủ, ông tuẫn tiết.9 Cảm phục lòng quả cảm của Trần Thúc Nhẫn, triều đình nhà Nguyễn đã ban tặng ông câu đối:

Như hà mạc như chi hà, ngọc thạch can qua thu bội.

 Hữu hạnh diệc hữu bất hạnh, ba đào ninh bậc cô chầu

(Thời thế biết làm sao, ngọc đã cũng tan khói lửa.

 May rủi thôi đành vậy, thuyền nan phó mặc ba đào)

Đương thời ba anh cùng làm quan đồng triều, cũng xuất thân khoa bảng, cư xử trong gia đình cũng như xã hội rất mực phép tắc, tôn sư trọng đạo, kính trên nhường dưới nên người dân rất nể phục, tương truyền ba anh em được người đời tán dương là “Hà Đồng Tam Phụng”, “ Huynh Hữu Đệ  Cung”.

Hiện bây giờ ở nhà thờ phái 3 nhánh 5 họ Trần có khắc ghi cặp đối:

Kính thân giả  bất cảm mạn ư nhân

Ái thân giả bất cảm ố ư nhân

(Kính trọng bản thân mình thì không dám kinh mạn người khác

Yêu bản thân mình thì không ghét chê người khác)

Ý tứ của câu đối này chắc chắn nhằm giáo dục con cháu họ Trần, và nó càng làm cho chúng ta  suy ngẫm về đức độ ba anh em Trần Bá Soạn, Trần Trọng Nhượng và Trần Thúc Nhẫn; và qua đó  rút ra bài học cho chính bản thân mình.

 

                                                                                                                                                         NGÔ THIÊN THU-pvh         

Các bài khác
Đăng nhập hệ thống
Tập san 2016
hoạt động các tổ chức đoàn thể
tuyên truyền cải cách hành chính
SÓNG NƯỚC TAM GIANG 2014
Cải cách thủ tục hành chính công
Lịch sử Quảng Điền
Các điểm đến du lịch Quảng Điền
Trang Thơ Quảng Điền
giấy mời qua mạng
Loading the player ...

Phần mềm quản lý hồ sơ công việc
UBND huyện Quảng Điền
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thừa Thiên Huế
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Liên hệ gửi bài
Liên hệ - Góp ý