Lịch công tác tuần phòng văn hóa thông tin Quảng Điền
Thống kê truy cập

Đang trực tuyến: 7

Hôm nay:

Tuần này:

Tháng này: 736

Tổng lượt truy cập: 261435

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH MUÔN NĂM!   ***  

Miên mang Tam Giang!
Không hiểu sao mỗi lần về Phá Tam Giang lòng tôi lại rạo rực khôn tả. Hình như sông nước, đò giang nó gọi mình. Đứng trước Tam Giang lồng lộng, mọi bức xúc lo toan về cuộc sống bề bộn đều biến mất, ta bỗng trở thành con người nghĩ ngợi toàn những điều cao đẹp. Một lần mới đây, nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhà thơ Đỗ Trung Quân cùng mấy anh nhà báo ở Sài Gòn ra đã chở vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường- Lâm Thị Mỹ Dạ và tôi đến một bến thuyền bên Phá Tam Giang. Ở đây có cái nhà hàng đầy gió và các món đặc sản đầm phá tươi rói. Nhưng ăn nhậu không thú bằng ngắm Tam Giang chiều xuống. Sóng nước long lanh như mắt người. Đêm về, đi chơi trăng uống rượu với tôm nướng trên phá. Dường như tất cả ánh trăng trên thế gian đều đổ Tam Giang, mặt nước lấp lánh như dát vàng. Nhà thơ Đỗ Trung Quân xuýt xoa :”Mình đang trở thành Người Trời rồi”…

           1. Đời tôi có nhiều ký ức với Tam Giang. Thuở nhỏ ngày nào cũng nghe mạ hát  ru: Thương anh em cũng muốn vô / Sợ truông nhà Hồ, sợ Phá Tam giang. Hồi chín, mười tuổi, tôi đã được theo mạ đi chợ Hồ Xá (Vĩnh Linh). Từ quê tôi vào chợ hơn ba chục cây số. Đoạn đường từ Vĩnh Chấp vô Hồ Xá thời đó rừng rú rậm lắm. Mạ kể, ngày xưa đoạn Truông nhà Hồ này xung quanh rừng rú rậm rạp lắm, nhiều thú dữ, lại là nơi bọn cướp đường ẩn nấp, nên phải đi đông người và đi cho nhanh. Còn phá Tam Giang thì mạ chưa tới, nhưng nghe ba con xưa làm lý trưởng đi Kinh Đô ra kể, thì Phá Tam Giang mênh mông sóng dữ, thuyền hay bị bọn cướp trên sông nước trấn lột... Rồi năm 1977, sau giải phóng miền Nam,  anh trai đầu của tôi, một kế toán trưởng Hợp tác xã nghề cá ở làng biển Thượng Luật, xã Ngư Thủy, Quảng Bình được điều động vào Quảng Điền để “chỉ đạo” việc thành lập Hợp tác xã nghề cá. Anh  tôi ở với bà con ngư dân xã Quảng Ngạn bên kia phá. Mỗi lần đi thăm anh, tôi phải đạp xe đạp mấy chục cây số ra Sịa gần hai tiếng đồng hồ mới tới được bến đò bờ bên ni Phá. Ở đây rất nhiều những con đò chở đầy trìa, cua, ghẹ, cá.. cập bến chờ người buôn đến lấy hàng. Mùi gió mặn dâng nồng nàn, sức sống rừng rực. Cả một không gian như đang cựa quậy. Con đò máy chạy  ba mươi phút nữa, ngoằn nghèo trên phá len lỏi giữa bủa vây nò, sáo, giăng như mắc cửi, mới cập bến đò Vĩnh Tu, rồi đi bộ trên cát ra Quảng Ngạn. Không biết cái Hợp tác xã mà anh tôi xây dựng năm ấy, bây giờ có còn không. Riêng anh trai tôi thì từ một ngư phủ bãi ngang, nhờ chuyến điều động ấy mà thành “cán bộ nhà nước”. Anh về hưu từ hồi chung huyện Hương Điền.

           Tôi nhiều lần ra Thị trấn Sịa, ngoài việc đi theo lời mời của huyện, còn có nghĩa tình bè bạn ở đó. Nhà thơ Hải Kỳ ở Đồng Hới, là bạn tri kỷ học cấp 3 Lệ Thủy với tôi và các nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Đỗ Hoàng, Lê Đình Ty… có ba ở Sịa. Trước năm 1949, ba Hải Kỳ là ông Trần Toàn làm nghề lái xe tuyến Đồng Hới-Huế, đưa vợ con vào Huế ở. Hải Kỳ sinh ra ở Huế. Năm 1954, ông Toàn cho vợ con ra thăm quê nội. Do không có thông tin, nên sông Hiền Lương đóng tuyến mà không biết. Thế là ba Hải Kỳ bị kẹt sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Mẹ anh phải tần tảo buôn bán ở chợ Đồng Hới nuôi hai con nhỏ và bà ngoại. Năm 1968, mẹ bị máy bay Mỹ bắn chết, để lại hai anh em Hải Kỳ nuôi nhau. Ba ở Sịa, bên Phá Tam Giang chỉ cách Đồng Hới 150 cây số thôi mà đành xa vợ con hơn 20 năm đằng đẵng. Sau năm 1975, Hải Kỳ mới tìm gặp ba. Ông đã lấy vợ ở Sịa và sinh ra được tám người con nữa, và vẫn làm nghề sửa xe và lái xe. Hơn tám mươi tuổi ông mới qua đời. Mỗi lần Hải Kỳ vô thăm ba lại rủ tôi cùng đi.

           Từ đó tôi hiểu biết thêm nhiều về Sịa, thị trấn có lịch sử văn hóa mấy trăm năm bên Tam Giang . Phá Tam Giang rộng lắm ai ơi / Có ai về Sịa với tôi thì về / Ðất Sịa có lịch có lề / Có sông tắm mát, có nghề làm ăn. Chợ Sịa (xưa  là chợ Ngũ  xã) là một chợ lớn phục vụ một vùng quê rộng lớn ở phía bắc Huế. Dọc Phá Tam Giang - Cầu  Hai có mấy chợ lớn chỉ xếp sau chợ Đông Ba là chợ Sịa, chợ Mỹ Lợi, chợ Vinh Thanh. Tên Sịa, chữ Nôm nghĩa là đồ đan bằng tre, dùng để phơi sấy cau. Không hiểu sao tên một vật dựng thủ công ấy lại thành tên một vùng đất ? Có lẽ xưa kia Sịa là nơi trồng nhiều cau chăng ? Cái tên nôm na ấy trở thành nổi tiếng từ hàng trăm năm nay. Kể cũng lạ. Đất Sịa, thưở xưa vốn là vùng đất trũng đầy bùn lầy, dưới bàn tay con người, nay đã trở thành một vùng quê trù mật, có phố chợ đông vui, sầm uất. Người ta hay nói “Nhất Huế, nhì Sịa”. Các Mẹ Huế giải thích vui rằng :” Nói rứa là để chọc ghẹo dân Sịa thường hay khoe quê mình  "Trạng thiên trạng địa, trạng từ chợ Sịa trạng về". Nhưng trên thực tế thì về mức độ sầm uất, giàu có thì “Nhất Huế nhì Sịa” thật ! Cái gì ở Huế có thì Sịa cũng có, cũng hay không kém. Sịa có hò mái nhì, mái đẩy, hò giã gạo...có hội kéo co, chơi đu, đua ghe, hội vật Thủ Lễ đầu xuân hấp dẫn không kém hội vật làng Sình. Về văn hóa ẩm thực, Sịa có bánh tráng, bánh Ô Sa, bánh ướt thịt heo Phú Lễ, tôm chua chợ Sịa…Đặc biệt, các món hải sản Phá Tam Giang “không nơi nào sánh được” với đủ thứ tươi ngon có tiếng:  Cá dìa, cá nâu, cua gạch, cá hanh, lệch huyết, lệch mỡ...  Đất Tam Giang là đất học, đất làm quan. Mảnh đất bên Phá Tam Giang nắng gió ấy là nơi sinh ra những người con lừng danh của dân tộc như : Đặng Tất, Đặng Dung, Trần Thúc Nhẫn, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, nghệ sĩ ưu tú Bạch Yến, nhà thơ Vân Anh Quách Tố Vương, thế hệ hôm nay có Phan Trung Thành, Ngô Cang… Xin nói đôi lời về Trần Thúc Nhẫn. Ông đỗ Hương Tiến (cử nhân) năm Đinh Mão (1867) tức năm Tự Đức thứ hai mươi ông mới 27 tuổi. Làng ông ở Quảng Thọ, Quảng Điền.  Làm quan chưa được tám năm đã thăng đến Tam Phẩm. Ông có tính cương nghị, lanh lợi được vua Tự Đức quý trọng. Ông  hy sinh anh dũng năm 1883, khi 43 tuổi  trong cuộc chiến đấu chống  giặc Pháp xâm lược, giữ Thành Trấn Hải. Triều đình Huế lúc bấy giờ có đi câu đối chữ Hán điếu tặng vị liệt sĩ vì nước: Như hà mạc như chi hà, ngọc thạch can qua thu bội. Hữu hạnh diệc hữu bất hạnh, ba đào ninh bậc cô chầu" ( Dịch là: Thời thế biết làm sao, ngọc đã cũng tan khói lửa. May rủi thôi đành vậy, thuyền nan phó mặc ba đào). Ở Sịa có ông Trần Hữu Khác, người làng Thạch Bình, đậu Tiến sĩ năm 27 tuổi (khoa Ðinh Sửu, 1877). Năm Cảnh Thịnh thứ sáu (1797) riêng làng Thủ Lễ đã có đến 54 người được triều Tây Sơn bổ làm việc quan.v.v.. Làng Thủ Lễ của Sịa có hai đền Văn Thánh và Võ Thánh, đó là một điều mà không phải ở một làng quê nào có đưọc, trừ Kinh Đô Huế. Đình làng Thủ Lễ có lịch sử gần 150 năm đã được xếp hạng Di tích quốc gia là một trong những đình làng lớn của vùng Tam Giang. Những vùng đất có bề dày văn hóa thường sinh ra những người học cao biết rộng, biết kinh bang tế thế. Như làng Mỹ Lợi ở Vinh Mỹ, Phú Lộc cuối Phá Tam Giang - Cầu Hai, các họ Trần, Hoàng, Lê, Phan… họ nào cũng có nhiều người tài giỏi, đỗ đạt, làm quan to ở triều Nguyễn và các chính quyền sau này. Đó là các ông Hoàng Văn Tuyển (1824-1879), đậu Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1851), Tổng đốc Bình Định và Thượng thư bộ Công; ông Hoàng Trọng Nhu, năm 38 tuổi, đậu Cử nhân Khoa Kỷ Dậu (1909), Huỳnh Văn Tích, đậu Tú Tài, làm Tri huyện Hoà Đa (Bình Định). Đặc biệt, bà Bà Hoàng Thái hậu cuối cùng của triều Nguyễn là Đoan Huy Hoàng Thái hậu ( tức Đức Từ Cung) , tên thật là Hoàng Thị Cúc, vợ vua Khải Định. Thời chính quyền cách mạng, có 2 vị bộ trưởng là người làng Mỹ Lợi. Ông Phan Thanh Liêm, bộ trưởng bộ cơ khí luyện kim và ông Trần Xuân Giá, bộ trường Bộ Kế hoạch và đầu tư, và các nhà văn Hồng Nhu, Chu Sơn, Nguyên Thảo, Lương Hương.v.v.. Nhắc chút ít lịch sử vùng đất Tam Giang để hiểu thêm rằng đây là miền đất trầm tích lịch sử, trầm tích văn hóa cần được đầu tư phục hồi, khai thác…

        2. Phá Tam Giang - Cầu Hai mênh mông tới 22.000 ha,  dài 70 cây số , từ cửa Sông Ô Lâu, đầu huyện Phong Điền, Quảng Điền đến chân đèo Hải Vân (Phú Lộc). Đây là “kho vàng” trời phú không đâu có được!  Vùng đất ngập mặn mênh mông lớn nhất Đông Nam Á, được gọi là “ biển cạn” này là tài nguyên kinh tế- du lịch lớn, là “mỏ vàng” lộ thiên khổng lồ chưa được khai thác bao nhiêu. Theo điều tra, vùng đầm phá này có nguồn ren cao nhất so với các đầm phá ở Việt Nam. Gồm 921 loài thuộc 444 chi, giống và 237 họ. Chim có 73 loài, trong đó có 30 loài di cư.  Có đến 230 loài cá với 23 loài cá kinh tế, 12 loài tôm, 18 loài cua, cùng nhiều loài trìa, sò huyết, rau câu... Trữ lượng tôm cá hàng trăm ngàn tấn với các loại cá quý như cá mú, cá dìa long, cá dìa vân, cá nâu, cá chim, cá đối, cá buôi, hanh.v.v.. Đây là nơi để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản xuất khẩu lớn, phát triển các sản phẩm du lịch hấp dẫn.

           Chỉ các loài chim ở Tam Giang thôi cũng là cả một thế giới. Ở Phá Tam Giang - Cầu Hai, chim nước tập trung mật độ cao thành sân chim ở ba khu vực cửa sông Ô Lâu, sông Truồi và đầm Sam. Vào mùa đông số lượng có thể lên đến hai vạn con. Người ta đã từng bắt gặp những đàn ngỗng trời 500 con, vịt trời 1000 con, sâm cầm có đàn tới 3000 con. Riêng sân chim Quảng Thái nó tập trung ở cánh đồng Lai Hà và khu cồn nổi, ruộng ô đầm trên phá Tam giang. Chim quý hiếm như Diệc lửa, Cò trắng, Ó lá, Cắt lưng hung, Choi choi nhỏ, Choi choi khoang cổ, chắt đốm đen, Chắt bụng xám, Chắt nhỏ, Nhạn đen, Bòng chanh, Nhạn bụng trắng, chìa vôi vàng, chìa vôi trắng,  Chích đầu nhọn mày đen, Sẻ đồng ngực vàng... Đó là các loại chim nằm trong sách bảo vệ nghiêm ngặt của Cộng đồng Châu Âu. Sâm cầm không phải là loài chim quý hiếm, nhưng là loài chim có giá trị kinh tế cao.

Có lần anh Hồ Xuân Bình, phó Ban tuyên giáo Tỉnh Ủy Thừa Thiên Huế, một người rất thạo về Tam Giang cho biết về chim ở Tam Giang: Chim sâm cầm (một loài với le le ,vịt trời, có nơi gọi là con gà nước) ở sân chim Quảng Thái ở cửa sông Ô Lâu không thua kém sâm cầm Hồ Tây. Sâm cầm Tam Giang béo, mập vì có nhiều thức ăn trên đầm phá từ ba con sông đổ về. Sâm cầm là chim di cư trốn rét từ phương Bắc về. Hà Nội có bốn loại đặc sản nổi tiếng : Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm/ Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây. Tên gọi sâm cầm bắt nguồn từ truyền thuyết rằng, ở trên dãy núi Trường Bạch có một loài chim thường ăn rễ của một loài cây cỏ. Do ăn loại rễ cây này mà chim đã chống chịu được thời tiết khắc nghiệt. Đó là cây nhân sâm. Nhờ đó người ốm ăn thịt chim sâm cầm thì khỏe ra. Trước đây, chim sâm cầm là sản vật để tiến vua.  Thời Nguyễn, thời Tự Đức có chiếu chỉ vùng Hồ Tây hằng năm cứ đến Tết Nguyên đán phải cống vua 10 đôi chim sâm cầm. Thịt chim sâm cầm mềm, màu đỏ tươi, được chế biến rất cầu kỳ thành những món ăn ngon đặc sắc như quay, rán, hầm, nướng. Người ta hầm chim sâm cầm với các vị thuốc như đương quy, thục địa, kỷ tử, hạt sen để  bổ dưỡng. Ca dao Huế có câu Thương chồng nấu cháo le le/ Nấu  canh hoa lý, nấu chè hạt sen. Le le cũng là một giống sâm cầm. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi ra Hà Nội cũng viết về sâm cầm, nhưng không phải là món ăn mà là một biểu trưng nghệ thuật Hà Thành:  Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi / Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời... Anh Hồ Xuân Bình kể rằng, ở sân chim Ô Lâu, có nhiều người  vẫn đi săn sâm cầm. Có buổi họ săn được mấy chục con. Nhiều người ở Hà Nội biếu tiền triệu không thích bằng gửi tặng vài con sâm cầm. Nhưng nếu săn bắn nhiều quá, chim sợ sẽ không bay về các sân chim trên Phá Tam Giang nữa, nguồn lợi Tam Giang sẽ giảm đi…

          3. Đứng trên cầu Ca Cút  nhìn xa về phía biển, tôi chợt nhớ đến mấy câu hát xưa: Chiều trên phá Tam Giang, anh chợt nhớ em,  / nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận… Cái tên Ca Cút cũng bắt đầu từ một nỗi nhớ nhung da diết như vậy. Dân Sịa kể rằng, ngày xưa có người vợ tần tảo lo bới xách cho chồng về Kinh thi hội. Nhưng hhi người vợ lo xong cơm bới, đến bến đò thì đò đã ra giữa phá. Vừa thương chồng vừa ân hận, người vợ kêu đò, kêu mãi kêu mãi hết ngày lại đến đêm rồi chết rũ bên bến mà thành loài chim "ca cút"...cứ kêu hoài : "Đò ơi, chờ với" . Bây giờ thì qua Phá Tam Giang-Cầu Hai có đến  bốn chiếc cầu hiện đại. Cầu Trường Hà, cầu Tư Hiền, Cầu Thuận An, Cầu Ca Cút. Tam Giang như gần lại trong mỗi bước chân người. Cả tỉnh Thừa Thiên Huế đang  phấn đấu để trở thành “Thành phố Huế trực thuộc Trung ương”, thì những chiếc cầu bắc qua Tam Giang ấy là đầu mối đưa phố thị về với phá.

         Tôi cứ mường tượng Tam Giang sau này sẽ thành một "biển đẹp” giữa lòng thành phố. Sẽ có những phố thị hiện đại mọc lên hai bên bờ phá với những con đường, vườn hoa, vườn tượng, nhà bảo tàng các danh nhân vùng Tam Giang, khu vui chơi giải trí, siêu thị…Lúc đó sẽ không còn cảnh nò sáo chằng chịt như bây giờ. Toàn bộ cư dân Tam Giang sẽ làm việc trên các hồ nuôi trồng thủy sản, trong các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, trong các khu du lịch. Tam Giang sẽ xanh trong mênh mông trở lại, Cá tôm sẽ sinh sôi trở lại. Trên phá người ta sẽ xây dựng những cụm tượng đài, những hòn non bộ, những cụm nhà chồ như những bảo tàng Tam Giang thu nhỏ để  phục vụ khách du lịch. Lướt trên phá là những con thuyền phụng, thuyền rồng chở khách du lịch v.v.. Những sân chim, những khu rừng dưới nước sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt, làm cho mênh mông sóng dữ Tam Giang trở nên thân thiết, gần gũi với  con người.

 

    Không biết là tôi có mơ mộng quá  không, hay vì gió nước Tam Giang thầm thì với tôi như vậy ?                                                                                                                                                                                                                                                                    

Ký của Ngô Minh

Các bài khác
Đăng nhập hệ thống
Tập san 2016
hoạt động các tổ chức đoàn thể
tuyên truyền cải cách hành chính
SÓNG NƯỚC TAM GIANG 2014
Cải cách thủ tục hành chính công
Lịch sử Quảng Điền
Các điểm đến du lịch Quảng Điền
Trang Thơ Quảng Điền
giấy mời qua mạng
Loading the player ...

Phần mềm quản lý hồ sơ công việc
UBND huyện Quảng Điền
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thừa Thiên Huế
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Liên hệ gửi bài
Liên hệ - Góp ý