Lịch công tác tuần phòng văn hóa thông tin Quảng Điền
Thống kê truy cập

Đang trực tuyến: 6

Hôm nay:

Tuần này:

Tháng này: 1254

Tổng lượt truy cập: 289611

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH MUÔN NĂM!   ***  

Các nhà khoa bảng Quảng Điền trên văn bia Quốc Tử giám Huế.
Trong thời kỳ quân chủ Việt Nam, mỗi triều đại đều cho xây dựng ngay tại Kinh đô những khu Văn Miếu để thờ Khổng Tử (1551-479 TCN) và các vị tiên hiền, tiên nho là những nhân vật tiêu biểu của hệ thống tư tưởng chính trị Trung Quốc mà phần lớn các triều đại phong kiến Việt Nam đều chịu ảnh hưởng, đặc biệt trên phương diện quản lý quốc gia.

           Ngày nay, chúng ta vẫn bảo tồn được khá nguyên vẹn trên thực địa hai khu Văn Miếu, đó là khu Văn Miếu Hà Nội và khu Văn Miếu Huế, còn được gọi là Văn Thánh. Tuy nhiên, theo thời gian, xét trên góc độ văn hóa và truyền thống dân tộc, cả hai khu Văn Miếu nói trên được mọi người dân Việt Nam biết đến không phải bởi ở đó thờ các Thánh hiền Trung Hoa mà cái chính đó là nơi có những tấm bia khắc tên các vị tiến sĩ dân tộc.

          Khu Văn Miếu Hà Nội được xây dựng năm 1070, dưới triều vua Lý Thánh Tông. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Sang thời Hậu Lê, Nho giáo thịnh hành, vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) cho dựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi; mỗi khoa là một tấm bia đặt trên lưng rùa. Đời nhà Nguyễn, bên cạnh Văn Miếu Hà Nội, vua Gia Long cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám tại Huế. Hiện nay, trên khu Văn Miếu Hà Nội có 82 tấm bia tiến sĩ thời Lê, trên sân Văn Miếu Huế cũng giữ được 32 tấm bia tiến sĩ triều Nguyễn (1802-1945).

          Nằm ven bờ bắc thượng nguồn sông Hương, cách chùa Thiên Mụ độ 500m về phía tây, khu Văn Miếu Huế được xây dựng qui mô vào năm 1802. Trải qua thời gian cũng những biến động lịch sử, kiến trúc khu Văn Miếu Huế đã bị hủy hoại khá nhiều, song 32 tấm bia tiến sĩ gần như vẫn còn khá nguyên vẹn tại chỗ. Trên những tấm bia đá ấy, triều Nguyễn cho khắc tên tuổi và quê quán của 293 tiến sĩ (hạng Chánh bảng) của 39 kỳ thi Hội, từ khoa thi đầu tiên vào năm 1822 dưới triều vua Minh Mạng (1820-1841) đến khoa thi cuối cùng vào năm 1919 dưới thời vua Khải Định (1916-1925). Trong 26 vị tiến sĩ của đất Thừa Thiên Huế, thì quê hương Quảng Điền có 5 vị tiến sĩ; sau đây là liệt kê các vị Tiến sĩ nói trên.

1.     Hoàng Công Thịnh: (1822-?)

Tiến sĩ Hoàng Công Thịnh người làng La Vân Hạ[1], huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; nay là thôn La Vân Hạ, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Cử nhân khoa Nhâm Dần (1842), đậu Hội nguyên Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1844). Sau khi ra làm quan, ông được bổ nhiệm đến chức Án sát tỉnh An Giang. Trên bia Văn Miếu Huế, tên Tiến sĩ Hoàng Công Thịnh được ghi ở vị trí bia số 10.

2.     Phan Đình Bình: (1831-1887)

          Tiến sĩ Phan Đình Bình người xã Phú Lương, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay là thôn Phú Lương, xã Quảng An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông đỗ cử nhân khoa Canh Tuất (1850), Tự Đức năm thứ 3. Năm Tự Đức thứ 9 (1856), khoa Bính Thìn, ông thi đỗ Hội Nguyên, Đình nguyên; tuy nhiên, trong kỳ thi này chỉ có Ngụy Khắc Đãn đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ, còn những người như Đặng Xuân Bảng, Trần Huy San, Ngô Văn Độ, Phan Hiển Đạo và Phan Đình Bình đều cho đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, bởi vua Tự Đức cho rằng: “gần đây thi cử chỉ chương lời văn đẹp đẽ, khoa này sách hỏi, Ngụy Khắc Đãn bàn việc nhiều điều có thể dùng được, lời nói chất phác ngay thẳng, nên cho đỗ Nhất giáp, để khuyên người dám nói thẳng...[2].  Năm ấy ông vừa tròn 26 tuổi. Trên hai dãy văn bia Quốc Tử Giám Huế, tên Tiến sĩ Phan Đình Bình ở vị trí bia số 17.

          Sau khi đỗ kỳ thi Tiến sĩ, ông được bổ chức Hàn lâm viện Biên tu, sau đó được làm Tri phủ Tiên Hưng (Hưng Yên), rồi thăng Tuần phủ Hưng Yên. Một thời gian ông được điều về Kinh và thăng chức Lang trung bộ Binh, thăng hàm Quang lộc tự thiếu khanh, biện lý công việc bộ Lễ, thăng Thị Lang, tham biện các vụ. Năm Tự Đức 23 (1870), ông làm Khâm sai ra xét các vụ việc ở Bắc Kỳ, rồi thăng Hữu Thị lang bộ Binh, kiêm quyền chưởng bộ Hộ. Khi quân Pháp bao vây thành Hà Nội (1873), vua phái ông ra Bắc Kỳ cùng phối hợp với Khâm mạng Đại thần Nguyễn Tri Phương ứng phó. Khi thành Hà Nội thất thủ, ông bị bắt và giải vào Gia Định. Về sau với sự nỗ lực can thiệp của sứ bộ Nguyễn Văn Tường, ông được tha. Sau hòa ước với Pháp, ông bị bãi chức đưa đi hiệu lực ở Cao Bằng, sau chuyển về làm Thương biện ở Hải Dương, lại thăng dần đến Tuần phủ Ninh Bình. Năm Tự Đức 36 (1833), ông được điều bổ thự Tổng đốc Vĩnh Yên. Đầu triều vua Đồng Khánh (1885-1889), ông được tôn phong tá quốc huân thần, tự Văn Minh điện đại học sĩ, tước Phù Nghĩa tử. Nhưng rồi khi Kinh lược Bắc Kỳ là Nguyễn Hữu Độ mật tâu với vua Đồng Khánh rằng: “Đình Bình khi ở Bắc Kỳ đề xướng lên nghị muốn lập Hoàng tôn, còn suy tôn nhà vua, không phải là ý chính và khi làm Khâm sai ở Quảng Bình, trông ngóng việc chậm trễ, lại lúc làm việc ở bộ, nhiều người chỉ trích các khoản như thế...”[3], vua Đồng Khánh nổi giận giao cho đình thần xét định, ông bị khép tội đại nghịch, bị giam chết trong nguc (12.1887). Đến triều Thành Thái (1889-1907), ông được truy phục hàm tước, gia phong tước Phù quốc công.

3.     Cao Đăng Đệ: (1847?)

Tiến sĩ Cao Đăng Đệ người xã Phước Yên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; nay là thôn Phước Yên, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Mão (1867) và đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Hợi, Tự Đức năm thứ 28 (1875). Sau khi được bổ làm quan Thị độc ở Nội các triều đình một thời gian, đến thời Hàm Nghi nguyên niên (1885), ông được bổ nhiệm làm Án sát Phú Yên, nhưng không hiểu vì lý do gì được đổi chuẩn vào làm quan Nội các cho đến triều Đồng Khánh[4]. Do kiêng húy chữ Đăng nên trên văn bia Tiến sĩ Văn Miếu Huế và trong Quốc triều khoa bảng, Tiến sĩ Cao Đăng Đệ đều chỉ ghi là Cao Đệ. Trên Văn Miếu Huế, tên Tiến sĩ Cao Đăng Đệ ở vị trí bia số 21.

4.     Trần Hữu Khác: (1851-?)

             Tiến sĩ Trần Hữu Khác người xã Thạch Bình, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; nay là thôn Thạch Bình, Thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Cử nhân khoa Quý Dậu (1873) và đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Sửu, Tự Đức năm thứ 30 (1877). Trước khi ra thi Hội, ông đã từng làm quan ở Tư vụ bộ Lễ. Sau khi thi đỗ, ông được bổ chức Ngự sử; sau đó bị cách chức không rõ lý do, rồi được phục hồi chức Biên tu. Trên Văn Miếu Huế, tên Tiến sĩ Trần Hữu Khác ở vị trí bia số 21

5.     Trần Đạo Tiềm: (1859-1907)

               Tiến sĩ Trần Đạo Tiềm người xã Đồng Lâm, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; nay là thôn Đồng Lâm, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Dần, Tự Đức năm 31 (1878) và sau đó được bổ chức Huấn đạo huyện Quảng Điền. Trong kỳ thi Hội khoa Canh Thìn (1880), ông đỗ Phó bảng, được đặc cách thi Đình, nhưng rồi do bài thi văn sách bị thiếu chữ nên ông bị đánh rớt xuống Cử nhân. Trong khoa thi Hội năm Ất Dậu, Hàm Nghi nguyên niên (1885), ông lại đỗ Hội nguyên, sau đó vào thi Đình nhưng do binh biến Kinh đô nên chưa kịp truyền lô thì Kinh thành thất thủ. Sách Thực lục ghi lại sự kiện này như sau: “…khoa Điện thí vẫn chưa truyền lô, xin nên đình lại. Duy kỳ thi Hội đã yết bảng tất cả 14 người (từ Trần Đạo Tiềm đến Đặng Quỹ), vẫn theo như trước đêm làm hạng chánh, phó trúng cách, đợi sang năm chuẩn cho vào thi Điện, sẽ hãy chia ra chánh bảng, phó bảng[5]. Năm 31 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu Thành Thái năm thứ 1 (1889); sau đó được bổ chức Tri phủ Hoài Nhơn, Bình Định rồi thời gian sau chuyển về sung chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm 1900, ông chuyển về chức Quản giáo trường Quốc Học Huế rồi sau đó về làm quan đường bộ Lễ với chức Thị Lang, rồi chức Tham tri. Ông mất năm 1907 và được thăng hàm Thượng thu bộ Lễ. Trên Văn Miếu Huế, tên Tiến sĩ Trần Đạo Tiềm ở vị trí bia số 23.

              Kể từ năm 1829, triều đình vua Minh Mạng (1820-1841) đặt ra quy chế mới với các khoa thi Hội: căn cứ vào số điểm các thí sinh đạt được cao hay thấp mà chia Tiến sĩ ra làm 2 cấp hạng: Chánh bảng và Phó bảng; và chỉ có những người đậu hạng Chánh bảng mới được khắc tên vào bia đá Tiến sĩ. Chính vì vậy, ngoài tên tuổi các vị Tiến sĩ được ghi danh trên bia đá Văn Miếu Huế, Quảng Điền còn có nhiều vị Phó bảng khác đỗ đạt dưới triều Nguyễn. Dưới đây là một số lược kê các vị Phó bảng trên quê hương Quảng Điền.

1.     Trần Công Soạn:

                 Phó bảng Trần Công Soạn người làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; nay là thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Cử nhân khoa Giáp Thìn, Thiệu Trị năm thứ 4 (1844). Ông làm quan đến chức Tuần phủ, sau đó thời gian do bị bệnh nên ông xin cáo nghỉ. Ông là anh của Trần Thúc Bình và Trần Công Nhượng[6] cũng là 2 nhân vật làm quan dưới triều Nguyễn.

                  2.  Đoàn Văn Bình: (1824-?)

                  Phó bảng Đoàn văn Bình sau đổi tên là Đoàn Văn Hội[7] là người làng Hạ Lang, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế; nay là thôn Hạ Lang, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Giải nguyên khoa Bính Ngọ (1846), sau đó 2 năm đỗ tiếp Phó bảng Ân khoa Mậu Thân (1848). Ông làm quan đến chức Hiệp biện Đại học sĩ, Thượng thư bộ Lại. Năm Mậu Tý, Đồng Khánh năm thứ 3 (1888), ông được gia hàm Thái tử thiếu bảo sung Cơ Mật Viện Đại thần

                 3. Nguyễn Đình Tuân:

                Phó bảng Nguyễn Đình Tuân người xã Phước Yên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế; nay thôn Phước Yên, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Khoa thi Hương Canh Tuất (1850) Tự Đức năm thứ 3, ông đậu Giải nguyên. Khoa thi Hội Tân Hợi (1851), ông đậu Phó bảng, sau đó ông ra làm quan đến chức Tổng đốc học Quảng Ngãi.

4.     Trần Ký: (1826-?)

              Phó bảng Trần Ký người xã Phú Lễ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế; nay là thôn Phú Lễ, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đậu cử nhân khoa Canh Tuất (1850) và đậu Phó bảng khoa Quý Sửu (1853) Tự Đức năm thứ 6. Ông làm quan đến chức Tu soạn Nội các. Ông cũng là người có tiếng về văn học với tác phẩm Liễu trai nữ huấn.

5.     Đặng Huy Xán: (1883-1885)

               Phó bảng Đặng Huy Xán người làng Bác Vọng, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; nay là thôn Bác Vọng, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Thìn (1868) và đỗ Phó bảng Ân khoa Kỷ Tỵ (1869), Tự Đức năm thứ 22. Bính Tuất Đồng Khánh năm thứ nhất (1886), ông được làm bổ nhiệm làm Án sát Bình Định[8], nhưng trên đường đi nhận chức chưa đến nơi đã bị nạn, cũng có tài liệu cho rằng ông bị hại bởi quân Cần Vương vì đã phản bội lại kế hoạch tấn công vào Nha huyện Quảng Điền của cha con Đặng Huy Cát[9]. Ông là em của Đặng Huy Trứ, danh nhân Việt Nam thế kỷ XIX.

6.     Nguyễn Văn Mại: (1853-?)

            Phó bảng Nguyễn Văn Mại tự Tiểu Cao. Ông người xã Niêm Phò, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; nay là thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Giải nguyên khoa Giáp Thân (1884). Khoa thi Hội Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1 (1889), ông đỗ Phó bảng. Sau khi ra làm quan, ông được phong chức Cơ Mật Viện ngoại lang. Ông cũng là người văn hay chữ tốt, nổi tiếng với tác phẩm Việt Nam phong sử.

7.     Phạm Hữu Tĩnh:  (1849-?)

               Phó bảng Phạm Hữu Tĩnh người xã Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; nay là thôn Đông Xuyên, xã Quảng An, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý (1888) và đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1 (1889) sau đó ra làm quan tới chức Tri huyện.

8.     Võ Sĩ: (1849-?)

               Phó bảng Võ Sĩ người xã Niêm Phò, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; nay là thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý (1888) và đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1  (1888) sau đó ra làm quan đến chức Tri huyện huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi.

                Năm tháng qua đi, vết thời gian có thể phủ mờ lên tất cả nhưng không làm mờ được tên tuổi những người con đất Quảng Điền đã từng làm rạng danh quê hương; và chắc chắn trong hành trình của các thế hệ trẻ Quảng Điền hôm nay, những tấm gương hiếu học, đỗ đạt của lớp người đi trước luôn là động lực, bệ đỡ vững chắc để họ bước tiếp truyền thống cha ông mình; bài viết nhỏ này ngõ hầu cung cấp thêm những tư liệu, góp phần thắp lửa vào truyền thống đó.      

Phạm Minh Tâm

(Trung tâm bảo tồn đi tích cố đô Huế)



[1] Sách Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục ghi là làng La Đàm, tr. 220

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 7, Nxb Giáo dục, tr. 443

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 9, Nxb Giáo dục, tr. 368

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục,Tập 9, Nxb Giáo dục, tr. 183

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục, Tập 9, Nxb Giáo dục, tr. 179

[6] Đậu cử nhân khoa Bính Ngọ (1846), Thiệu Trị năm thứ 6, làm quan Tham tri bộ Lễ  

[7] Ngô Đức Thọ (cb), Các nhà khoa bảng Việt nam 1075-1919, Nxb Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 707  

[8] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục, Tập 9, Nxb Giáo dục, tr. 248

[9] Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993 

 

Các bài khác
Đăng nhập hệ thống
Tập san 2016
hoạt động các tổ chức đoàn thể
tuyên truyền cải cách hành chính
SÓNG NƯỚC TAM GIANG 2014
Cải cách thủ tục hành chính công
Lịch sử Quảng Điền
Các điểm đến du lịch Quảng Điền
Trang Thơ Quảng Điền
giấy mời qua mạng
Loading the player ...

Phần mềm quản lý hồ sơ công việc
UBND huyện Quảng Điền
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thừa Thiên Huế
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Liên hệ gửi bài
Liên hệ - Góp ý